TỪ HÀNH VI XÁC ĐỊNH ĐÚNG TỘI DANH, HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI “TÀNG TRỮ, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT ĐỘC” QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 311 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015, SỬA ĐỔI BỔ SUNG 2017

TỪ HÀNH VI XÁC ĐỊNH ĐÚNG TỘI DANH, HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI “TÀNG TRỮ, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT ĐỘC” QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 311 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015, SỬA ĐỔI BỔ SUNG 2017

Trong một vụ án gần đây, Bị cáo Q là thợ đánh bóng trang sức vàng, bạc, nên đã sử dụng Xyanua để phục vụ cho công việc nói trên. Ngoài ra, Bị cáo còn bán lại số Xyanua chưa sử dụng tới cho người quen làm nghề gia công, đồng thời giữ một lượng nhỏ Xyanua tại nhà để phục vụ cho việc gia công trang sức.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt Bị cáo Q về tội “Sử dụng, mua bán trái phép chất độc” theo khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (“Bộ luật Hình sự”) mức án là 1 năm tù, vì cho rằng toàn bộ số xyanua thu giữ của Bị cáo Q tàng trữ nhằm mục đích sử dụng nhưng Viện kiểm sát nhân dân TP. H truy tố bị cáo Q về tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất độc” theo khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp với hành vi khách quan, gây bất lợi cho Bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xét xử Bị cáo về tội “Sử dụng, mua bán trái phép chất độc”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt đối với Bị cáo Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” được hiểu là người nào thực hiện một hoặc nhiều hành vi khách quan nêu trên, có mức phạt tù không quá 05 năm.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân TP. H (cấp sơ thẩm) cho rằng: hành vi “tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất độc” là rất nguy hiểm cho xã hội, vì trên thực tế đã có rất nhiều vụ án mà các đối tượng gây án đã sử dụng chất độc Xyanua để giết người nên cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của Bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân TP. H tách từng hành vi bao gồm: hành vi tàng trữ, hành vi sử dụng và hành vi mua bán để đề nghị mức hình phạt riêng, dẫn đến hình phạt chung đề nghị cho Bị cáo lên tới 06 năm 06 tháng đến 09 năm tù.

Do nhận định, quan điểm giữa Tòa án và Viện kiểm sát khác biệt nên Viện kiểm sát nhân dân TP. H đã kháng nghị toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. H xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng tuyên bố Bị cáo Q phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất độc” theo Khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự; tăng mức hình phạt tù đối với Bị cáo Q.

Từ vụ án này, có thể nhận thấy việc xác định tội danh đối với hành vi của Bị cáo vẫn tồn tại những điểm chưa đồng nhất, đặt ra vấn đề cần phân tích sâu hơn về cách hiểu và áp dụng pháp luật hiện nay.

Thứ nhất, về việc truy tố hành vi “tàng trữ” chất độc theo Điều 311 Bộ luật Hình sự

Vấn đề cần làm rõ trước hết là ranh giới giữa hành vi “tàng trữ” và hành vi “sử dụng” chất độc trong Điều 311 Bộ luật Hình sự. Mặc dù điều luật liệt kê các hành vi “sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất độc” trong một cấu thành duy nhất, pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn về tiêu chí xác định “tàng trữ” như một hành vi độc lập. “Tàng trữ” thường được hiểu là hành vi cố ý cất giữ chất độc nhằm phục vụ một mục đích nhất định, thường mang tính dự trữ, che giấu hoặc phục vụ các hành vi nguy hiểm khác trong tương lai. Như vậy, “tàng trữ” không đồng nhất với việc lưu giữ chất độc trong quá trình sử dụng và cũng không phải là hậu quả tất yếu của việc mua để sử dụng. Trong vụ án, việc Bị cáo Q có Xyanua tại nơi làm việc và tại nhà xuất phát từ nhu cầu phục vụ hoạt động đánh bóng vàng bạc; số Xyanua được cất giữ ở vị trí phục vụ sản xuất, không nhằm mục đích che giấu, dự trữ hay sử dụng gây hại. Do đó, việc quy kết đồng thời hành vi “tàng trữ” là không phù hợp với bản chất của sự việc, bởi hành vi lưu giữ ở đây chỉ là điều kiện thực tế của quá trình sử dụng, không phải là hành vi phạm tội độc lập. Cách định tội như Viện kiểm sát nhân dân TP. H gây bất lợi cho bị cáo.

Thứ hai, việc sử dụng Xyanua trong hoạt động nghề nghiệp có phải là hành vi trái pháp luật?

Cần phân biệt rõ giữa việc sử dụng Xyanua trong hoạt động nghề nghiệp và việc sử dụng trái phép theo nghĩa của Điều 311 Bộ luật Hình sự. Trong thực tế, Xyanua là hóa chất được sử dụng trong nhiều quy trình xử lý kim loại quý, đánh bóng vàng bạc trong các cơ sở sản xuất thủ công. Hoạt động này về mặt bản chất mang tính chuyên môn và không phải là hành vi xâm hại khách thể nào. Trong vụ án này, mục đích sử dụng chỉ nhằm phục vụ nghề nghiệp; việc mua bán chỉ trong phạm vi những người cùng ngành; Xyanua được lưu giữ trong khu vực riêng biệt, không phát tán ra cộng đồng và không gây ra bất kỳ thiệt hại về sức khỏe hay tài sản. Điều này cho thấy hành vi vi phạm của bị cáo thực chất là vi phạm quy định quản lý nhà nước về hóa chất, chứ không phải hành vi tiềm ẩn mục đích gây hại. Việc lập luận theo hướng so sánh với các vụ án giết người bằng Xyanua là suy đoán bất lợi, đánh đồng giữa hành vi chưa gây thiệt hại với hành vi đặc biệt nghiêm trọng, làm sai lệch nguyên tắc đánh giá khách quan mức độ nguy hiểm của hành vi hình sự.

Thứ ba, về cách xác định hình phạt theo Điều 311 Bộ luật Hình sự

Khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt “từ 01 năm đến 05 năm” đối với người thực hiện một hoặc nhiều hành vi khách quan quy định tại điều luật. Cách quy định điều luật cho thấy, nhà làm luật xác định các hành vi “tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán” là các dạng biểu hiện của cùng một khách thể xâm phạm – trật tự quản lý chất độc – và không yêu cầu tách từng hành vi để áp dụng nhiều mức hình phạt. Vì vậy, không có căn cứ pháp lý để xác định mức hình phạt cho từng hành vi rồi cộng dồn thành hình phạt chung, như cách luận tội của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm nêu trên. Việc tách hành vi rồi đề nghị tổng hợp đến 06 năm 06 tháng hoặc 09 năm tù là trái với nguyên tắc xử lý “một tội danh – một hình phạt”, gây bất lợi không có cơ sở cho bị cáo. Phân tích của Hội đồng xét xử sơ thẩm, theo đó chỉ định tội “sử dụng, mua bán trái phép chất độc”, và áp dụng khung hình phạt của khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự mà không gán thêm hành vi “tàng trữ”, là tiếp cận phù hợp với quy định của luật và bản chất sự việc.

Từ diễn biến vụ án và cách tiếp cận khác nhau như trên có thể thấy rõ sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng Điều 311 Bộ luật Hình sự, đặc biệt là cách xác định hành vi “tàng trữ” trong mối quan hệ với hành vi “sử dụng”, cũng như tiêu chí đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi khi mục đích chỉ nhằm phục vụ hoạt động nghề nghiệp.

Việc một tội danh bị nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật hiểu theo nhiều hướng khác nhau dẫn tới việc áp dụng pháp luật không đồng nhất. Do vậy, sắp tới đây, cần có Văn bản hướng dẫn cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao về việc định tội danh, xác định mức hình phạt đối với hành vi nói trên.

Thông tin tác giả

Danh mục

viTiếng Việt